Chào mừng quý vị đến với website của Trương Thế Thảo
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Tài liệu BDHSG môn KHTN 7 Quang hợp

- 0 / 0
Nguồn: https://thethao0481.violet.vn/
Người gửi: Trương Thế Thảo (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:18' 24-04-2024
Dung lượng: 393.0 KB
Số lượt tải: 186
Người gửi: Trương Thế Thảo (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:18' 24-04-2024
Dung lượng: 393.0 KB
Số lượt tải: 186
Số lượt thích:
0 người
Tài liệu ôn tập HSG môn KHTN 7 - phần Vật sống
Bài: QUANG HỢP.
A. TÓM TẮT LÝ THUYẾT:
I. VAI TRÒ CỦA LÁ CÂY VỚI CHỨC NĂNG QUANG HỢP:
Lá là cơ quan quang hợp của cây xanh. Lá có nhiều đặc điểm phù hợp với
chức năng quang hợp:
➢ Lá cây dạng bản dẹt giúp thu nhận được nhiều ánh sáng.
➢ Các tế bào ở lớp giữa của lá có nhiều lục lạp. Lục lạp chứa chất diệp lục thu
nhận ảnh sáng dùng cho tổng hợp chất hữu cơ của lá cây.
➢ Khí khổng phân bố trên bề mặt lá, có vai trò chính trong quá trình trao đổi
khí và thoát hơi nước.
➢ Gân lá (mạch dẫn) có chức năng vận chuyển nước đến lục lạp và vận chuyển
chất hữu cơ từ lục lạp về cuống lá, từ đó vận chuyển đến các bộ phận khác của
cây.
II. QUÁ TRÌNH QUANG HỢP:
Quang hợp là quá trình thu nhận và chuyển hoá năng lượng ánh sáng, tổng
hợp nên các chất hữu cơ từ các chất vô cơ như nước, khí carbon dioxide, diễn ra
ở tế bào có chất diệp lục, đồng thời thải ra khí oxygen.
Phương trình tổng quát của quang hợp:
Nước +Carbon dioxide
ánh sáng
diệp lục
Chất hữu cơ+Oxygen
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA TRAO ĐỔI CHẤT VÀ CHUYỂN HÓA NĂNG
LƯỢNG TRONG QUANG HỢP:
Giáo viên: Trương Thế Thảo – 0986 860 846
Page 1
Tài liệu ôn tập HSG môn KHTN 7 - phần Vật sống
Trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng trong quang hợp có mối quan hệ
chặt chẽ, hai quá trình luôn diễn ra đồng thời, gắn bó với nhau.
IV. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUANG HỢP:
1. Ánh sáng:
Ánh sáng cung cấp năng lượng cho quang hợp. Ánh sáng mạnh hoặc yếu và
thời gian chiếu sáng có thể làm quang hợp của cây tăng lên hoặc giảm đi.
Nhu cầu ánh sáng của các loài cây không giống nhau:
➢ Nhóm cây ưa sáng mạnh: thường mọc ở nơi quang đãng, phiến lá
thường nhỏ, màu xanh sáng như lá cây hoa giấy, cây hoa sứ,...
➢ Nhóm cây ưa ánh sáng yếu: thường mọc dưới tán cây khác,...; phiến
lá thường rộng, màu xanh sẫm như lá cây vạn niên thanh, cây sâm ngọc linh,...
2. Carbon dioxide:
Nồng độ carbon dioxide tăng lên thì quang hợp tăng nhưng nếu nồng độ
carbon dioxide tăng cao quá thì quang hợp giảm.
3. Nước
Nước là nguyên liệu cho quang hợp ở cây xanh.
➢ Cây thiếu hoặc thừa nước đều dẫn đến quang hợp giảm.
➢ Khi cây hấp thụ đủ nước, quang hợp diễn ra bình thường.
Nhu cầu nước của các loài cây là khác nhau:
➢ Có cây cần nhiều nước. Ví dụ cây cói, cây ráy, lúa nước,...
➢ Có cây cần ít nước. Ví dụ cây sen đá, cây lô hội, cây lưỡi hổ,...
Nhu cầu nước của một loài cây trong các giai đoạn phát triển khác nhau cũng
khác nhau.
4. Nhiệt độ
Quang hợp của thực vật chỉ diễn ra bình thường ở nhiệt độ trung bình 20–
300C.
Khi nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, quang hợp của hầu hết các loài cây đều
bị giảm hoặc ngừng trệ.
V. Ý NGHĨA CỦA VIỆC TRỒNG VÀ BẢO VỆ CÂY XANH:
Cây xanh, thông qua quá trình quang hợp, có vai trò:
➢ Cung cấp chất hữu cơ và năng lượng cần thiết cho sự sống.
➢ Giúp cân bằng lượng oxygen và carbon dioxide trong không khí.
➢ Góp phần điều hòa khí hậu, hạn chế ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất...
➢ Hấp thụ khí carbon dioxide làm giảm hiệu ứng nhà kính, hạn chế tăng
nhiệt độ trái đất, làm sạch không khí...
Giáo viên: Trương Thế Thảo – 0986 860 846
Page 2
Tài liệu ôn tập HSG môn KHTN 7 - phần Vật sống
Vì vậy, chúng ta cần trồng nhiều cây xanh và bảo vệ rừng, nhất là rừng đầu
nguồn.
VI. THÍ NGHIỆM PHÁT HIỆN TINH BỘT TRONG LÁ CÂY:
1. Chuẩn bị
- Mẫu vật: một chậu cây khoai lang (hoặc cây khoai tây, cây vạn niên thanh).
- Dụng cụ, thiết bị, hoá chất: băng giấy đen, dung dịch iodine 1%, ethanol 70%,
bình thuỷ tinh miệng rộng, đèn cồn, cốc đong, nước, kẹp, đĩa petri, ống nghiệm,
kiềng, tấm tản nhiệt (gause), diêm (hoặc bật lửa), phiếu báo cáo kết quả thí
nghiệm theo gợi ý.
2. Tiến hành
- Bước 1. Lấy một chậu trồng cây khoai lang, để vào chỗ tối hai ngày. Dùng
băng giấy đen bịt kín một phần ở cả hai mặt của chiếc lá. Đem chậu cây đó ra
đặt ở ngoài sáng khoảng 4 – 6 giờ.
Bước 2. Ngắt chiếc lá đã bịt băng giấy đen. Gỡ bỏ băng giấy đen trên bề mặt lá.
Cho lá đó vào ống nghiệm đựng ethanol 70%. Đặt ống nghiệm đó vào cốc lớn
đựng nước, để lên kiềng rồi đun cách thuỷ bằng bếp đèn cồn cho đến khi lá mất
màu xanh (chất diệp lục ở lá bị tẩy hết).
Bước 3. Tắt đèn cồn, dùng kẹp gắp lá ra khỏi ống nghiệm dựng ethanol 70%,
nhúng lá vào cốc nước ấm để rửa sạch cồn.
Bước 4. Đặt lá vào trong đĩa petri, nhỏ vài giọt dung dịch iodine loãng lên bề
mặt lá.
3. Kết quả và giải thích:
- Kết quả: Phần lá bịt kín có màu vàng, phần lá không bịt kín có màu xanh tím
đặc trưng.
- Giải thích: Phần lá không bịt kín có màu xanh tím đặc trưng khi thử bằng dung
dịch iodine vì phần lá này nhận được ánh sáng mặt trời nên chế tạo được tinh
bột. Phần lá bịt kín có màu vàng khi thử bằng dung dịch iodine vì phần lá này
không nhận được ánh sáng mặt trời nên không chế tạo được tinh bột.
4. Kết luận:
- Tinh bột là sản phẩm của quá trình quang hợp.
- Ánh sáng là điều kiện thiết yếu của quá trình quang hợp.
Giáo viên: Trương Thế Thảo – 0986 860 846
Page 3
Tài liệu ôn tập HSG môn KHTN 7 - phần Vật sống
VII. THÍ NGHIỆM CHỨNG MINH KHÍ CARBON DIOXIDE CẦN CHO
QUANG HỢP
1. Chuẩn bị
- Mẫu vật: hai chậu cây khoai lang (hoặc cây khoai tây, cây vạn niên thanh)
giống nhau.
- Dụng cụ, thiết bị, hoá chất: hai chuông thuỷ tinh (hoặc hộp nhựa trong suốt)
úp được lên chậu cây, hai tấm kính (to hơn đường kính chậu cây), nước vôi
trong, dung dịch iodine 1%, ethanol 70%, cốc thuỷ tinh miệng rộng, đèn cồn,
nước, kẹp, đĩa petri.
2. Tiến hành:
- Bước 1. Đặt hai chậu cây khoai lang (hoặc khoai tây hoặc vạn niên thanh) vào
chỗ tối trong 3 - 4 ngày.
- Bước 2. Lấy hai tấm kính, đổ nước lên toàn bộ bề mặt tấm kính. Sau đó, đặt
mỗi chậu cây lên một tấm kính ướt, dùng hai chuông thủy tinh (hoặc hộp nhựa
trong suốt) úp vào mỗi chậu cây.
- Bước 3. Trong chuông A đặt thêm 1 cốc nước vôi trong. Đặt cả 2 chuông thí
nghiệm ra chỗ ánh sáng.
- Bước 4. Sau 4 - 6 giờ, ngắt lá của mỗi cây để thử tinh bột bằng dung dịch
iodine (như thí nghiệm phát hiện tinh bột trong lá cây).
3. Kết quả và giải thích:
- Kết quả: Lá cây trong chuông A có màu vàng, lá cây trong chuông B có màu
xanh tím đặc trưng.
- Giải thích: Lá cây trong chuông B có màu xanh tím đặc trưng khi thử bằng
dung dịch iodine vì lá cây trong chuông này chế tạo được tinh bột. Lá cây trong
chuông A có màu vàng khi thử bằng dung dịch iodine, chứng tỏ lá cây trong
chuông này không chế tạo được tinh bột, bởi vì khí carbon dioxide đã bị cốc
nước vôi trong hấp thụ hết.
4. Kết luận: Carbon dioxide là nguyên liệu của quá trình quang hợp, không có
khí carbon dioxide thì lá cây không thể quang hợp.
B. CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP:
Câu 1: Nêu các đặc điểm của lá cây phù hợp với chức năng quang hợp.
Gợi ý trả lời:
Giáo viên: Trương Thế Thảo – 0986 860 846
Page 4
Tài liệu ôn tập HSG môn KHTN 7 - phần Vật sống
Lá cây có cấu tạo thích nghi với chức năng quang hợp:
- Phiến lá có dạng bản dẹt, mỏng giúp thu nhận được nhiều ánh sáng.
- Trong lớp biểu bì của mặt lá có khí khổng để cho khí CO2 khuếch tán vào bên
trong lá đến lục lạp cung cấp cho quá trình quang hợp đồng thời để cho khí
O2 là sản phẩm của quá trình quang hợp khuếch tán ra khỏi lá.
- Tế bào ở lớp giữa của lá chứa nhiều diệp lục để trực tiếp hấp thụ được năng
lượng của các tia sáng chiếu lên lá.
- Hệ gân lá phát triển, chứa các mạch gỗ (con đường cung cấp nước cùng các
ion khoáng cho quang hợp) và mạch rây (con đường dẫn sản phẩm quang hợp ra
khỏi lá).
Các bộ phận của lá cây và chức năng của chúng trong quá trình quang hợp:
- Phiến lá: dạng bản dẹt giúp thu nhận được nhiều ánh sáng.
- Lục lạp (ở lớp tế bào giữa lá): chứa diệp lục thu nhận ánh sáng dùng cho tổng
hợp chất hữu cơ của lá cây.
- Gân lá: chứa mạch dẫn giúp vận chuyển nước cung cấp nguyên liệu cho quá
trình quang hợp đến lục lạp và vận chuyển chất hữu cơ là sản phẩm cho quá
trình quang hợp từ lục lạp về cuống lá, từ đó vận chuyển đến các bộ phận khác
của cây.
- Khí khổng (phân bố trên bề mặt lá): có vai trò chính trong quá trình trao đổi
khí (cung cấp CO2 cho quá trình quang hợp và giải phóng O2 được tạo ra do quá
trình quang hợp) và thoát hơi nước.
Câu 2: Theo em, những cây có lá tiêu biến (ví dụ cây xương rồng lá biến đổi
thành gai) thì có thể quang hợp được không? Vì sao?
Gợi ý trả lời:
- Ở thực vật, tất cả các bộ phận chứa diệp lục của cây như thân non, cành non,
lá, quả xanh,… đều có khả năng quang hợp. Do đó, lá chỉ là bộ phận chính thực
hiện chức năng quang hợp chứ không phải là bộ phận duy nhất có khả năng
quang hợp.
- Cây có lá tiêu biến như cây xương rồng thì vẫn có thể quang hợp được. Vì ở
những cây này, thân hoặc cành sẽ có lục lạp (biểu hiện là thân hoặc cành có
màu xanh) nên thân hoặc cành sẽ thay lá làm nhiệm vụ quang hợp.
Câu 3: Quang hợp có ý nghĩa như thế nào đối với sự sống trên Trái Đất?
Gợi ý trả lời:
Quang hợp có vai trò quyết định đối với sự sống trên Trái Đất:
- Quang hợp tạo ra các chất hữu cơ phục vụ đời sống của các sinh vật như làm
thức ăn, nơi ở; làm nguyên liệu cho công nghiệp; làm dược liệu;… Không có
quang hợp sẽ không có sự tổng hợp chất hữu cơ → tất cả các loài sinh vật sẽ
chết.
- Quang hợp hấp thụ khí Carbon dioxide (CO2) và giải phóng khí Oxygen (O2)
giúp điều hòa không khí, cung cấp Oxygen cho sự sống. Không có quang hợp,
tất cả những loài hiếu khí (cần Oxygen cho sự sống) cũng sẽ chết.
Câu 4: Mô tả mối quan hệ giữa quá trình trao đổi chất và chuyển hoá năng
lượng trong quang hợp ở lá cây.
Giáo viên: Trương Thế Thảo – 0986 860 846
Page 5
Tài liệu ôn tập HSG môn KHTN 7 - phần Vật sống
Gợi ý trả lời:
Quá trình trao đổi và chuyển hóa các chất trong quang hợp ở lá cây luôn đi cùng
với chuyển hóa năng lượng ánh sáng thành năng lượng hóa học trong các hợp
chất hữu cơ:
- Năng lượng ánh sáng Mặt Trời được lục lạp hấp thụ, một phần chuyển hóa
thành năng lượng hóa học dự trữ trong chất hữu cơ ở lá cây
- Nước và carbon dioxide từ môi trường ngoài được hấp thụ và vận chuyển đến
lục lạp, qua các quá trình biến đổi tạo thành chất hữu cơ và oxygen.
→ Quá trình trao đổi chất và chuyển hóa các chất trong quang hợp có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau, hai quá trình luôn diễn ra đồng thời, gắn liền với nhau.
Câu 5: Vì sao nói: “Trong quá trình quang hợp, trao đổi chất và chuyển hóa
năng lượng luôn diễn ra đồng thời”?
Gợi ý trả lời:
Nói: “Trong quá trình quang hợp, trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng luôn diễn ra đồng thời” vì:
- Trong quá trình quang hợp, nước và khí carbon dioxide được chuyển đến lục
lạp ở lá cây để tổng hợp thành chất hữu cơ (glucose hoặc tinh bột) và giải phóng
khí oxygen.
- Đồng thời, trong quá trình này, năng lượng từ ánh sáng mặt trời (quang năng)
được chuyển hóa thành năng lượng hóa học (hóa năng) tích lũy trong các chất
hữu cơ.
→ Trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng trong quang hợp có mối quan hệ
chặt chẽ, hai quá trình luôn diễn ra đồng thời, gắn liền với nhau.
Câu 6: Tại sao khi trời nắng, đứng dưới bóng cây thường có cảm giác dễ chịu
hơn khi sử dụng ô để che?
Gợi ý trả lời:
- Khi trời nắng, cây quang hợp nhả ra khí oxygen, và hấp thu carbon dioxide.
Việc có nhiều oxygen và ít carbon dioxide xung quanh sẽ giúp người đứng
trước bóng cây dễ chịu hơn.
- Mặt khác, sự thoát hơi nước ở lá cây còn có tác dụng làm giảm nhiệt độ môi
trường so với nơi không có cây nên người đứng dưới bóng cây sẽ thấy mát hơn.
→ Khi trời nắng, đứng dưới bóng cây thường có cảm giác dễ chịu hơn khi sử
dụng ô để che.
Câu 7: Vì sao trong nông nghiệp để tăng năng suất một số loại cây trồng người
ta thường dùng đèn chiếu sáng vào ban đêm?
Gợi ý trả lời:
Thời gian chiếu sáng có thể ảnh hưởng đến cường độ quang hợp của cây
trồng. Một số cây trồng chỉ sinh trưởng, phát triển, ra hoa, kết quả trong điều
kiện chiếu sáng mạnh và thời gian chiếu sáng đủ (có thể là thời gian chiếu sáng
dài hoặc ngắn tùy theo loại cây). Như vậy, việc dùng đèn chiếu sáng vào ban
đêm nhằm cung cấp đủ cường độ ánh sáng và thời gian chiếu sáng thích hợp để
kích thích quá trình quang hợp tích lũy vật chất trong cây → sẽ giúp cây trưởng
Giáo viên: Trương Thế Thảo – 0986 860 846
Page 6
Tài liệu ôn tập HSG môn KHTN 7 - phần Vật sống
và phát triển tốt hơn → thu hoạch sớm hơn và có thể thu hoạch trái vụ (ví dụ:
cây thanh long, hoa cúc…).
Câu 8: Vì sao nhiều giống cây trồng muốn thu năng suất cao thì không nên
trồng cây với mật độ quá dày? Nêu ví dụ.
Gợi ý trả lời:
- Nhiều giống cây trồng muốn thu năng suất cao thì không nên trồng cây với
mật độ quá dày, vì: Trồng quá dày khiến cây thu nhận được ít ánh sáng hơn →
Quá trình quang hợp diễn ra yếu, chất hữu cơ tạo thành ít hơn → Năng suất cây
trồng thấp.
- Ngoài ra, trồng cây với mật độ quá dày còn làm cho cây cạnh tranh nhau về
nguồn nước, phân bón; mật độ quá dày còn tạo điều kiện thuận lợi cho các loại
sâu, bệnh phát triển gây hại cho cây trồng.
- Ví dụ: cây ngô, cây lúa,… khi trồng với mật độ quá dày thì cây sẽ cao vống
lên nhưng thân còi cọc; sản lượng ngô, lúa thu được thấp.
Câu 9: Vì sao nhiều giống cây cảnh trồng ở chậu để trong nhà vẫn xanh tốt?
Nêu ví dụ.
Gợi ý trả lời:
- Nhiều giống cây cảnh trồng trong chậu để trong nhà vẫn xanh tốt, vì: Những
cây cảnh này có nhu cầu ánh sáng không cao (cây ưa ánh sáng yếu) nên khi đặt
trong nhà vẫn có thể quang hợp được và phát triển xanh tốt.
- Ví dụ: cây vạn niên thanh, cây lưỡi hổ, phát tài, kim tiền, sen đá, phong lan,
vạn niên thanh…
Câu 10: Vì sao trong trồng trọt muốn thu được năng suất cao thì cần tưới đủ
nước cho cây trồng?
Gợi ý trả lời:
Trong trồng trọt muốn thu được năng suất cao thì cần tưới đủ nước cho cây vì:
- Quang hợp tạo ra chất hữu cơ nên quang hợp đóng vai trò chủ yếu trong việc
quyết định năng suất của cây trồng.
- Nước vừa là nguyên liệu tham gia trực tiếp vào quá trình quang hợp vừa là yếu
tố quyết định khả năng trao đổi khí qua khí khổng, khả năng vận chuyển các
chất trong cây. Do đó, nước có vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp.
→ Tưới đủ nước giúp cây quang hợp hiệu quả → Cây sinh trưởng phát triển tốt,
tạo thành nhiều chất hữu cơ giúp thu được năng suất cao.
Câu 11: Vì sao trong thực tiễn người ta cần chống nóng và chống rét cho cây
trồng? Nêu ví dụ biện pháp chống nóng, chống rét cho cây.
Gợi ý trả lời:
- Phải chống nóng và chống rét cho cây vì các biện pháp chống nóng, chóng rét
cho cây có tác dụng tạo điều kiện nhiệt độ thuận lợi cho quá trình quang hợp,
cây sẽ tạo được nhiều chất hữu cơ, giúp cây lớn nhanh và sinh trưởng tốt.
- Ví dụ biện pháp chóng nóng, chống rét cho cây:
Giáo viên: Trương Thế Thảo – 0986 860 846
Page 7
Tài liệu ôn tập HSG môn KHTN 7 - phần Vật sống
+ Ví dụ biện pháp chống nóng cho cây: tưới nước vào sáng sớm hoặc chiều mát;
làm mái che, giàn che, tủ gốc cây bằng rơm rạ, xơ dừa, thân rễ lục bình…
+ Ví dụ biện pháp chống rét cho cây: ủ ấm gốc cây, trồng cây trong nhà kính,
bón thêm phân lân và phân kali,…
Câu 12: Giải thích vì sao nên trồng cây đúng thời vụ và đảm bảo mật độ phù
hợp.
Gợi ý trả lời:
- Nên trồng cây đúng thời vụ vì:
+ Khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng,…) là những yếu tố ảnh hưởng mạnh
mẽ đến quá trình quang hợp của cây, từ đó ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và
phát triển của cây.
+ Các loại cây khác nhau có nhu cầu khác nhau về khí hậu khác nhau mà khí
hậu trong năm không đồng nhất (tùy vào thời vụ).
→ Vì vậy, muốn cho cây sinh trưởng, phát triển tốt thì phải trồng cây vào thời
vụ có khí hậu, thời tiết phù hợp nhất đối với cây.
- Nên đảm bảo mật độ phù hợp vì:
+ Cây trồng quá dày sẽ dẫn đến thiếu nước, ánh sáng, các nguyên tố dinh dưỡng
khoáng thiết yếu,… để cây có thể tiến hành quá trình quang hợp tích lũy vật
chất cho cây, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của cây
(cây còi cọc, năng suất thấp).
+ Cây trồng quá thưa sẽ dẫn đến cây không sử dụng hết các nguồn sống được
cung cấp → lãng phí diện tích và nguồn sống → hiệu quả kinh tế thu được
không cao.
→ Trồng cây đúng mật độ thì cây mới sử dụng được các yếu tố ánh sáng, nhiệt
độ, độ ẩm,... của môi trường phù hợp nhất và hiệu quả nhất.
Câu 13: Ở những khu công nghiệp hay nơi có nhiều nhà máy, nồng độ khí
carbon dioxide thường tăng cao. Quang hợp của cây trồng tại đó bị ảnh hưởng
như thế nào?
Gợi ý trả lời:
Ở những khu công nghiệp hay nơi có nhiều nhà máy, nồng độ khí carbon
dioxide thường tăng cao. Nếu nồng độ khí carbon dioxide cao trong giới hạn
cho phép thì cường độ quang hợp của cây trồng tại đó sẽ tăng cao. Tuy nhiên,
nếu nồng độ khí carbon dioxide tăng cao vượt ngưỡng cho phép, hiệu quả quang
hợp của cây trồng tại đó thường giảm đi và cây có thể chết do không quang hợp
được.
Câu 14: Vì sao trong bể kính nuôi cá cảnh, người ta thường cho vào các loại
cây thủy sinh (ví dụ: rong đuôi chó)?
Gợi ý trả lời:
Oxygen tan ít trong nước, nên khi nuôi cá cảnh trong các bể kính người ta
thường cho vào các loại cây thủy sinh để cung cấp thêm oxygen (qua quá trình
quang hợp) cho cá cảnh. Ngoài ra, các cây thủy sinh cũng giúp tăng tính thẩm
mĩ cho bể cá cảnh.
Giáo viên: Trương Thế Thảo – 0986 860 846
Page 8
Tài liệu ôn tập HSG môn KHTN 7 - phần Vật sống
Câu 15: Thiết kế thí nghiệm chứng minh cây nhả ra khí oxygen trong quá trình
quang hợp.
Gợi ý trả lời:
- Lấy vài cành rong đuôi chó (hoặc cây thủy sinh khác) cho vào hai cốc thủy
tinh A và B đựng đầy nước. Đổ nước vào đầy hai ống nghiệm, úp mỗi ống
nghiệm đó vào một cành rong trong mỗi cốc, sao cho không có bọt khí lọt vào.
Để cốc A vào chỗ tối hoặc bọc ngoài bằng một túi giấy đen. Đưa cốc B ra chỗ
có nắng hoặc để dưới đèn sáng có chụp.
- Sau khoảng 6 giờ, quan sát 2 cốc, ta thấy: từ cành rong trong cốc B có những
bọt khí thoát ra rồi nổi lên và chiếm một khoảng dưới đáy ống nghiệm, còn cành
rong trong cốc A không có hiện tượng đó.
– Lấy ống nghiệm ra khỏi cốc B, lật lại để xác định chất khí do cây rong đã thải
ra bằng cách: đưa nhanh que đóm vừa tắt (chỉ còn tàn đỏ) vào miệng ống
nghiệm, ta thấy que đóm lại bùng cháy.
- Giải thích: Cành rong trong cốc A không nhận được ánh sáng nên không
quang hợp. Cành rong trong cốc B nhận được ánh sáng nên quang hợp, trong
quá trình quang hợp, cây đã nhả ra khí oxygen nên làm cho que đóm bùng cháy.
- Kết luận: Trong quá trình quang hợp, cây nhả ra khí oxygen.
Giáo viên: Trương Thế Thảo – 0986 860 846
Page 9
Bài: QUANG HỢP.
A. TÓM TẮT LÝ THUYẾT:
I. VAI TRÒ CỦA LÁ CÂY VỚI CHỨC NĂNG QUANG HỢP:
Lá là cơ quan quang hợp của cây xanh. Lá có nhiều đặc điểm phù hợp với
chức năng quang hợp:
➢ Lá cây dạng bản dẹt giúp thu nhận được nhiều ánh sáng.
➢ Các tế bào ở lớp giữa của lá có nhiều lục lạp. Lục lạp chứa chất diệp lục thu
nhận ảnh sáng dùng cho tổng hợp chất hữu cơ của lá cây.
➢ Khí khổng phân bố trên bề mặt lá, có vai trò chính trong quá trình trao đổi
khí và thoát hơi nước.
➢ Gân lá (mạch dẫn) có chức năng vận chuyển nước đến lục lạp và vận chuyển
chất hữu cơ từ lục lạp về cuống lá, từ đó vận chuyển đến các bộ phận khác của
cây.
II. QUÁ TRÌNH QUANG HỢP:
Quang hợp là quá trình thu nhận và chuyển hoá năng lượng ánh sáng, tổng
hợp nên các chất hữu cơ từ các chất vô cơ như nước, khí carbon dioxide, diễn ra
ở tế bào có chất diệp lục, đồng thời thải ra khí oxygen.
Phương trình tổng quát của quang hợp:
Nước +Carbon dioxide
ánh sáng
diệp lục
Chất hữu cơ+Oxygen
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA TRAO ĐỔI CHẤT VÀ CHUYỂN HÓA NĂNG
LƯỢNG TRONG QUANG HỢP:
Giáo viên: Trương Thế Thảo – 0986 860 846
Page 1
Tài liệu ôn tập HSG môn KHTN 7 - phần Vật sống
Trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng trong quang hợp có mối quan hệ
chặt chẽ, hai quá trình luôn diễn ra đồng thời, gắn bó với nhau.
IV. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUANG HỢP:
1. Ánh sáng:
Ánh sáng cung cấp năng lượng cho quang hợp. Ánh sáng mạnh hoặc yếu và
thời gian chiếu sáng có thể làm quang hợp của cây tăng lên hoặc giảm đi.
Nhu cầu ánh sáng của các loài cây không giống nhau:
➢ Nhóm cây ưa sáng mạnh: thường mọc ở nơi quang đãng, phiến lá
thường nhỏ, màu xanh sáng như lá cây hoa giấy, cây hoa sứ,...
➢ Nhóm cây ưa ánh sáng yếu: thường mọc dưới tán cây khác,...; phiến
lá thường rộng, màu xanh sẫm như lá cây vạn niên thanh, cây sâm ngọc linh,...
2. Carbon dioxide:
Nồng độ carbon dioxide tăng lên thì quang hợp tăng nhưng nếu nồng độ
carbon dioxide tăng cao quá thì quang hợp giảm.
3. Nước
Nước là nguyên liệu cho quang hợp ở cây xanh.
➢ Cây thiếu hoặc thừa nước đều dẫn đến quang hợp giảm.
➢ Khi cây hấp thụ đủ nước, quang hợp diễn ra bình thường.
Nhu cầu nước của các loài cây là khác nhau:
➢ Có cây cần nhiều nước. Ví dụ cây cói, cây ráy, lúa nước,...
➢ Có cây cần ít nước. Ví dụ cây sen đá, cây lô hội, cây lưỡi hổ,...
Nhu cầu nước của một loài cây trong các giai đoạn phát triển khác nhau cũng
khác nhau.
4. Nhiệt độ
Quang hợp của thực vật chỉ diễn ra bình thường ở nhiệt độ trung bình 20–
300C.
Khi nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, quang hợp của hầu hết các loài cây đều
bị giảm hoặc ngừng trệ.
V. Ý NGHĨA CỦA VIỆC TRỒNG VÀ BẢO VỆ CÂY XANH:
Cây xanh, thông qua quá trình quang hợp, có vai trò:
➢ Cung cấp chất hữu cơ và năng lượng cần thiết cho sự sống.
➢ Giúp cân bằng lượng oxygen và carbon dioxide trong không khí.
➢ Góp phần điều hòa khí hậu, hạn chế ngập lụt, lũ quét, sạt lở đất...
➢ Hấp thụ khí carbon dioxide làm giảm hiệu ứng nhà kính, hạn chế tăng
nhiệt độ trái đất, làm sạch không khí...
Giáo viên: Trương Thế Thảo – 0986 860 846
Page 2
Tài liệu ôn tập HSG môn KHTN 7 - phần Vật sống
Vì vậy, chúng ta cần trồng nhiều cây xanh và bảo vệ rừng, nhất là rừng đầu
nguồn.
VI. THÍ NGHIỆM PHÁT HIỆN TINH BỘT TRONG LÁ CÂY:
1. Chuẩn bị
- Mẫu vật: một chậu cây khoai lang (hoặc cây khoai tây, cây vạn niên thanh).
- Dụng cụ, thiết bị, hoá chất: băng giấy đen, dung dịch iodine 1%, ethanol 70%,
bình thuỷ tinh miệng rộng, đèn cồn, cốc đong, nước, kẹp, đĩa petri, ống nghiệm,
kiềng, tấm tản nhiệt (gause), diêm (hoặc bật lửa), phiếu báo cáo kết quả thí
nghiệm theo gợi ý.
2. Tiến hành
- Bước 1. Lấy một chậu trồng cây khoai lang, để vào chỗ tối hai ngày. Dùng
băng giấy đen bịt kín một phần ở cả hai mặt của chiếc lá. Đem chậu cây đó ra
đặt ở ngoài sáng khoảng 4 – 6 giờ.
Bước 2. Ngắt chiếc lá đã bịt băng giấy đen. Gỡ bỏ băng giấy đen trên bề mặt lá.
Cho lá đó vào ống nghiệm đựng ethanol 70%. Đặt ống nghiệm đó vào cốc lớn
đựng nước, để lên kiềng rồi đun cách thuỷ bằng bếp đèn cồn cho đến khi lá mất
màu xanh (chất diệp lục ở lá bị tẩy hết).
Bước 3. Tắt đèn cồn, dùng kẹp gắp lá ra khỏi ống nghiệm dựng ethanol 70%,
nhúng lá vào cốc nước ấm để rửa sạch cồn.
Bước 4. Đặt lá vào trong đĩa petri, nhỏ vài giọt dung dịch iodine loãng lên bề
mặt lá.
3. Kết quả và giải thích:
- Kết quả: Phần lá bịt kín có màu vàng, phần lá không bịt kín có màu xanh tím
đặc trưng.
- Giải thích: Phần lá không bịt kín có màu xanh tím đặc trưng khi thử bằng dung
dịch iodine vì phần lá này nhận được ánh sáng mặt trời nên chế tạo được tinh
bột. Phần lá bịt kín có màu vàng khi thử bằng dung dịch iodine vì phần lá này
không nhận được ánh sáng mặt trời nên không chế tạo được tinh bột.
4. Kết luận:
- Tinh bột là sản phẩm của quá trình quang hợp.
- Ánh sáng là điều kiện thiết yếu của quá trình quang hợp.
Giáo viên: Trương Thế Thảo – 0986 860 846
Page 3
Tài liệu ôn tập HSG môn KHTN 7 - phần Vật sống
VII. THÍ NGHIỆM CHỨNG MINH KHÍ CARBON DIOXIDE CẦN CHO
QUANG HỢP
1. Chuẩn bị
- Mẫu vật: hai chậu cây khoai lang (hoặc cây khoai tây, cây vạn niên thanh)
giống nhau.
- Dụng cụ, thiết bị, hoá chất: hai chuông thuỷ tinh (hoặc hộp nhựa trong suốt)
úp được lên chậu cây, hai tấm kính (to hơn đường kính chậu cây), nước vôi
trong, dung dịch iodine 1%, ethanol 70%, cốc thuỷ tinh miệng rộng, đèn cồn,
nước, kẹp, đĩa petri.
2. Tiến hành:
- Bước 1. Đặt hai chậu cây khoai lang (hoặc khoai tây hoặc vạn niên thanh) vào
chỗ tối trong 3 - 4 ngày.
- Bước 2. Lấy hai tấm kính, đổ nước lên toàn bộ bề mặt tấm kính. Sau đó, đặt
mỗi chậu cây lên một tấm kính ướt, dùng hai chuông thủy tinh (hoặc hộp nhựa
trong suốt) úp vào mỗi chậu cây.
- Bước 3. Trong chuông A đặt thêm 1 cốc nước vôi trong. Đặt cả 2 chuông thí
nghiệm ra chỗ ánh sáng.
- Bước 4. Sau 4 - 6 giờ, ngắt lá của mỗi cây để thử tinh bột bằng dung dịch
iodine (như thí nghiệm phát hiện tinh bột trong lá cây).
3. Kết quả và giải thích:
- Kết quả: Lá cây trong chuông A có màu vàng, lá cây trong chuông B có màu
xanh tím đặc trưng.
- Giải thích: Lá cây trong chuông B có màu xanh tím đặc trưng khi thử bằng
dung dịch iodine vì lá cây trong chuông này chế tạo được tinh bột. Lá cây trong
chuông A có màu vàng khi thử bằng dung dịch iodine, chứng tỏ lá cây trong
chuông này không chế tạo được tinh bột, bởi vì khí carbon dioxide đã bị cốc
nước vôi trong hấp thụ hết.
4. Kết luận: Carbon dioxide là nguyên liệu của quá trình quang hợp, không có
khí carbon dioxide thì lá cây không thể quang hợp.
B. CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP:
Câu 1: Nêu các đặc điểm của lá cây phù hợp với chức năng quang hợp.
Gợi ý trả lời:
Giáo viên: Trương Thế Thảo – 0986 860 846
Page 4
Tài liệu ôn tập HSG môn KHTN 7 - phần Vật sống
Lá cây có cấu tạo thích nghi với chức năng quang hợp:
- Phiến lá có dạng bản dẹt, mỏng giúp thu nhận được nhiều ánh sáng.
- Trong lớp biểu bì của mặt lá có khí khổng để cho khí CO2 khuếch tán vào bên
trong lá đến lục lạp cung cấp cho quá trình quang hợp đồng thời để cho khí
O2 là sản phẩm của quá trình quang hợp khuếch tán ra khỏi lá.
- Tế bào ở lớp giữa của lá chứa nhiều diệp lục để trực tiếp hấp thụ được năng
lượng của các tia sáng chiếu lên lá.
- Hệ gân lá phát triển, chứa các mạch gỗ (con đường cung cấp nước cùng các
ion khoáng cho quang hợp) và mạch rây (con đường dẫn sản phẩm quang hợp ra
khỏi lá).
Các bộ phận của lá cây và chức năng của chúng trong quá trình quang hợp:
- Phiến lá: dạng bản dẹt giúp thu nhận được nhiều ánh sáng.
- Lục lạp (ở lớp tế bào giữa lá): chứa diệp lục thu nhận ánh sáng dùng cho tổng
hợp chất hữu cơ của lá cây.
- Gân lá: chứa mạch dẫn giúp vận chuyển nước cung cấp nguyên liệu cho quá
trình quang hợp đến lục lạp và vận chuyển chất hữu cơ là sản phẩm cho quá
trình quang hợp từ lục lạp về cuống lá, từ đó vận chuyển đến các bộ phận khác
của cây.
- Khí khổng (phân bố trên bề mặt lá): có vai trò chính trong quá trình trao đổi
khí (cung cấp CO2 cho quá trình quang hợp và giải phóng O2 được tạo ra do quá
trình quang hợp) và thoát hơi nước.
Câu 2: Theo em, những cây có lá tiêu biến (ví dụ cây xương rồng lá biến đổi
thành gai) thì có thể quang hợp được không? Vì sao?
Gợi ý trả lời:
- Ở thực vật, tất cả các bộ phận chứa diệp lục của cây như thân non, cành non,
lá, quả xanh,… đều có khả năng quang hợp. Do đó, lá chỉ là bộ phận chính thực
hiện chức năng quang hợp chứ không phải là bộ phận duy nhất có khả năng
quang hợp.
- Cây có lá tiêu biến như cây xương rồng thì vẫn có thể quang hợp được. Vì ở
những cây này, thân hoặc cành sẽ có lục lạp (biểu hiện là thân hoặc cành có
màu xanh) nên thân hoặc cành sẽ thay lá làm nhiệm vụ quang hợp.
Câu 3: Quang hợp có ý nghĩa như thế nào đối với sự sống trên Trái Đất?
Gợi ý trả lời:
Quang hợp có vai trò quyết định đối với sự sống trên Trái Đất:
- Quang hợp tạo ra các chất hữu cơ phục vụ đời sống của các sinh vật như làm
thức ăn, nơi ở; làm nguyên liệu cho công nghiệp; làm dược liệu;… Không có
quang hợp sẽ không có sự tổng hợp chất hữu cơ → tất cả các loài sinh vật sẽ
chết.
- Quang hợp hấp thụ khí Carbon dioxide (CO2) và giải phóng khí Oxygen (O2)
giúp điều hòa không khí, cung cấp Oxygen cho sự sống. Không có quang hợp,
tất cả những loài hiếu khí (cần Oxygen cho sự sống) cũng sẽ chết.
Câu 4: Mô tả mối quan hệ giữa quá trình trao đổi chất và chuyển hoá năng
lượng trong quang hợp ở lá cây.
Giáo viên: Trương Thế Thảo – 0986 860 846
Page 5
Tài liệu ôn tập HSG môn KHTN 7 - phần Vật sống
Gợi ý trả lời:
Quá trình trao đổi và chuyển hóa các chất trong quang hợp ở lá cây luôn đi cùng
với chuyển hóa năng lượng ánh sáng thành năng lượng hóa học trong các hợp
chất hữu cơ:
- Năng lượng ánh sáng Mặt Trời được lục lạp hấp thụ, một phần chuyển hóa
thành năng lượng hóa học dự trữ trong chất hữu cơ ở lá cây
- Nước và carbon dioxide từ môi trường ngoài được hấp thụ và vận chuyển đến
lục lạp, qua các quá trình biến đổi tạo thành chất hữu cơ và oxygen.
→ Quá trình trao đổi chất và chuyển hóa các chất trong quang hợp có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau, hai quá trình luôn diễn ra đồng thời, gắn liền với nhau.
Câu 5: Vì sao nói: “Trong quá trình quang hợp, trao đổi chất và chuyển hóa
năng lượng luôn diễn ra đồng thời”?
Gợi ý trả lời:
Nói: “Trong quá trình quang hợp, trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng luôn diễn ra đồng thời” vì:
- Trong quá trình quang hợp, nước và khí carbon dioxide được chuyển đến lục
lạp ở lá cây để tổng hợp thành chất hữu cơ (glucose hoặc tinh bột) và giải phóng
khí oxygen.
- Đồng thời, trong quá trình này, năng lượng từ ánh sáng mặt trời (quang năng)
được chuyển hóa thành năng lượng hóa học (hóa năng) tích lũy trong các chất
hữu cơ.
→ Trao đổi chất và chuyển hóa năng lượng trong quang hợp có mối quan hệ
chặt chẽ, hai quá trình luôn diễn ra đồng thời, gắn liền với nhau.
Câu 6: Tại sao khi trời nắng, đứng dưới bóng cây thường có cảm giác dễ chịu
hơn khi sử dụng ô để che?
Gợi ý trả lời:
- Khi trời nắng, cây quang hợp nhả ra khí oxygen, và hấp thu carbon dioxide.
Việc có nhiều oxygen và ít carbon dioxide xung quanh sẽ giúp người đứng
trước bóng cây dễ chịu hơn.
- Mặt khác, sự thoát hơi nước ở lá cây còn có tác dụng làm giảm nhiệt độ môi
trường so với nơi không có cây nên người đứng dưới bóng cây sẽ thấy mát hơn.
→ Khi trời nắng, đứng dưới bóng cây thường có cảm giác dễ chịu hơn khi sử
dụng ô để che.
Câu 7: Vì sao trong nông nghiệp để tăng năng suất một số loại cây trồng người
ta thường dùng đèn chiếu sáng vào ban đêm?
Gợi ý trả lời:
Thời gian chiếu sáng có thể ảnh hưởng đến cường độ quang hợp của cây
trồng. Một số cây trồng chỉ sinh trưởng, phát triển, ra hoa, kết quả trong điều
kiện chiếu sáng mạnh và thời gian chiếu sáng đủ (có thể là thời gian chiếu sáng
dài hoặc ngắn tùy theo loại cây). Như vậy, việc dùng đèn chiếu sáng vào ban
đêm nhằm cung cấp đủ cường độ ánh sáng và thời gian chiếu sáng thích hợp để
kích thích quá trình quang hợp tích lũy vật chất trong cây → sẽ giúp cây trưởng
Giáo viên: Trương Thế Thảo – 0986 860 846
Page 6
Tài liệu ôn tập HSG môn KHTN 7 - phần Vật sống
và phát triển tốt hơn → thu hoạch sớm hơn và có thể thu hoạch trái vụ (ví dụ:
cây thanh long, hoa cúc…).
Câu 8: Vì sao nhiều giống cây trồng muốn thu năng suất cao thì không nên
trồng cây với mật độ quá dày? Nêu ví dụ.
Gợi ý trả lời:
- Nhiều giống cây trồng muốn thu năng suất cao thì không nên trồng cây với
mật độ quá dày, vì: Trồng quá dày khiến cây thu nhận được ít ánh sáng hơn →
Quá trình quang hợp diễn ra yếu, chất hữu cơ tạo thành ít hơn → Năng suất cây
trồng thấp.
- Ngoài ra, trồng cây với mật độ quá dày còn làm cho cây cạnh tranh nhau về
nguồn nước, phân bón; mật độ quá dày còn tạo điều kiện thuận lợi cho các loại
sâu, bệnh phát triển gây hại cho cây trồng.
- Ví dụ: cây ngô, cây lúa,… khi trồng với mật độ quá dày thì cây sẽ cao vống
lên nhưng thân còi cọc; sản lượng ngô, lúa thu được thấp.
Câu 9: Vì sao nhiều giống cây cảnh trồng ở chậu để trong nhà vẫn xanh tốt?
Nêu ví dụ.
Gợi ý trả lời:
- Nhiều giống cây cảnh trồng trong chậu để trong nhà vẫn xanh tốt, vì: Những
cây cảnh này có nhu cầu ánh sáng không cao (cây ưa ánh sáng yếu) nên khi đặt
trong nhà vẫn có thể quang hợp được và phát triển xanh tốt.
- Ví dụ: cây vạn niên thanh, cây lưỡi hổ, phát tài, kim tiền, sen đá, phong lan,
vạn niên thanh…
Câu 10: Vì sao trong trồng trọt muốn thu được năng suất cao thì cần tưới đủ
nước cho cây trồng?
Gợi ý trả lời:
Trong trồng trọt muốn thu được năng suất cao thì cần tưới đủ nước cho cây vì:
- Quang hợp tạo ra chất hữu cơ nên quang hợp đóng vai trò chủ yếu trong việc
quyết định năng suất của cây trồng.
- Nước vừa là nguyên liệu tham gia trực tiếp vào quá trình quang hợp vừa là yếu
tố quyết định khả năng trao đổi khí qua khí khổng, khả năng vận chuyển các
chất trong cây. Do đó, nước có vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp.
→ Tưới đủ nước giúp cây quang hợp hiệu quả → Cây sinh trưởng phát triển tốt,
tạo thành nhiều chất hữu cơ giúp thu được năng suất cao.
Câu 11: Vì sao trong thực tiễn người ta cần chống nóng và chống rét cho cây
trồng? Nêu ví dụ biện pháp chống nóng, chống rét cho cây.
Gợi ý trả lời:
- Phải chống nóng và chống rét cho cây vì các biện pháp chống nóng, chóng rét
cho cây có tác dụng tạo điều kiện nhiệt độ thuận lợi cho quá trình quang hợp,
cây sẽ tạo được nhiều chất hữu cơ, giúp cây lớn nhanh và sinh trưởng tốt.
- Ví dụ biện pháp chóng nóng, chống rét cho cây:
Giáo viên: Trương Thế Thảo – 0986 860 846
Page 7
Tài liệu ôn tập HSG môn KHTN 7 - phần Vật sống
+ Ví dụ biện pháp chống nóng cho cây: tưới nước vào sáng sớm hoặc chiều mát;
làm mái che, giàn che, tủ gốc cây bằng rơm rạ, xơ dừa, thân rễ lục bình…
+ Ví dụ biện pháp chống rét cho cây: ủ ấm gốc cây, trồng cây trong nhà kính,
bón thêm phân lân và phân kali,…
Câu 12: Giải thích vì sao nên trồng cây đúng thời vụ và đảm bảo mật độ phù
hợp.
Gợi ý trả lời:
- Nên trồng cây đúng thời vụ vì:
+ Khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa, ánh sáng,…) là những yếu tố ảnh hưởng mạnh
mẽ đến quá trình quang hợp của cây, từ đó ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và
phát triển của cây.
+ Các loại cây khác nhau có nhu cầu khác nhau về khí hậu khác nhau mà khí
hậu trong năm không đồng nhất (tùy vào thời vụ).
→ Vì vậy, muốn cho cây sinh trưởng, phát triển tốt thì phải trồng cây vào thời
vụ có khí hậu, thời tiết phù hợp nhất đối với cây.
- Nên đảm bảo mật độ phù hợp vì:
+ Cây trồng quá dày sẽ dẫn đến thiếu nước, ánh sáng, các nguyên tố dinh dưỡng
khoáng thiết yếu,… để cây có thể tiến hành quá trình quang hợp tích lũy vật
chất cho cây, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của cây
(cây còi cọc, năng suất thấp).
+ Cây trồng quá thưa sẽ dẫn đến cây không sử dụng hết các nguồn sống được
cung cấp → lãng phí diện tích và nguồn sống → hiệu quả kinh tế thu được
không cao.
→ Trồng cây đúng mật độ thì cây mới sử dụng được các yếu tố ánh sáng, nhiệt
độ, độ ẩm,... của môi trường phù hợp nhất và hiệu quả nhất.
Câu 13: Ở những khu công nghiệp hay nơi có nhiều nhà máy, nồng độ khí
carbon dioxide thường tăng cao. Quang hợp của cây trồng tại đó bị ảnh hưởng
như thế nào?
Gợi ý trả lời:
Ở những khu công nghiệp hay nơi có nhiều nhà máy, nồng độ khí carbon
dioxide thường tăng cao. Nếu nồng độ khí carbon dioxide cao trong giới hạn
cho phép thì cường độ quang hợp của cây trồng tại đó sẽ tăng cao. Tuy nhiên,
nếu nồng độ khí carbon dioxide tăng cao vượt ngưỡng cho phép, hiệu quả quang
hợp của cây trồng tại đó thường giảm đi và cây có thể chết do không quang hợp
được.
Câu 14: Vì sao trong bể kính nuôi cá cảnh, người ta thường cho vào các loại
cây thủy sinh (ví dụ: rong đuôi chó)?
Gợi ý trả lời:
Oxygen tan ít trong nước, nên khi nuôi cá cảnh trong các bể kính người ta
thường cho vào các loại cây thủy sinh để cung cấp thêm oxygen (qua quá trình
quang hợp) cho cá cảnh. Ngoài ra, các cây thủy sinh cũng giúp tăng tính thẩm
mĩ cho bể cá cảnh.
Giáo viên: Trương Thế Thảo – 0986 860 846
Page 8
Tài liệu ôn tập HSG môn KHTN 7 - phần Vật sống
Câu 15: Thiết kế thí nghiệm chứng minh cây nhả ra khí oxygen trong quá trình
quang hợp.
Gợi ý trả lời:
- Lấy vài cành rong đuôi chó (hoặc cây thủy sinh khác) cho vào hai cốc thủy
tinh A và B đựng đầy nước. Đổ nước vào đầy hai ống nghiệm, úp mỗi ống
nghiệm đó vào một cành rong trong mỗi cốc, sao cho không có bọt khí lọt vào.
Để cốc A vào chỗ tối hoặc bọc ngoài bằng một túi giấy đen. Đưa cốc B ra chỗ
có nắng hoặc để dưới đèn sáng có chụp.
- Sau khoảng 6 giờ, quan sát 2 cốc, ta thấy: từ cành rong trong cốc B có những
bọt khí thoát ra rồi nổi lên và chiếm một khoảng dưới đáy ống nghiệm, còn cành
rong trong cốc A không có hiện tượng đó.
– Lấy ống nghiệm ra khỏi cốc B, lật lại để xác định chất khí do cây rong đã thải
ra bằng cách: đưa nhanh que đóm vừa tắt (chỉ còn tàn đỏ) vào miệng ống
nghiệm, ta thấy que đóm lại bùng cháy.
- Giải thích: Cành rong trong cốc A không nhận được ánh sáng nên không
quang hợp. Cành rong trong cốc B nhận được ánh sáng nên quang hợp, trong
quá trình quang hợp, cây đã nhả ra khí oxygen nên làm cho que đóm bùng cháy.
- Kết luận: Trong quá trình quang hợp, cây nhả ra khí oxygen.
Giáo viên: Trương Thế Thảo – 0986 860 846
Page 9
 








Các ý kiến mới nhất